Keo nước hoa

Keo nước hoa – Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn được gọi là keo ta, mân côi, mak ku kong, kum tai (Lào), sambor meas (Cămpuchia), cassie do Levant.
Tên khoa học Acacia farnesiana Willd. (Mimosa farnesiana L.)
Thuộc họ Trinh nữ Mimosaceae.

Mô tả cây keo nước hoa

cây Keo nước hoa
cây Keo nước hoa

Cây nhỏ cao từ 2 đến 6m, trên thân có khi có gai. Lá thưa, kép hai ngả có 2 lá kép thành gai, cuống chung dài 4-6cm, có hạch nổi ở cách đầu cuống 5mm. Cuống phụ có 6 đôi mang 14 đôi lá chét hình thuôn dài 4-7mm, rộng 1,5-2mm. Cụm hoa hình đầu màu vàng tươi, có tổng bao, mùi thơm ngát, quả màu nâu hợp thành 2 đến 10 trên cùng một cuống hình trụ, thẳng hay cong, nhẵn, khi chín màu nâu đen nhạt, dài 5-7mm, dày 10-13mm trong chứa 10 hạt hay hơn rất cứng, hình bầu dục dẹt, màu nâu xung quanh có cơm màu trắng nhạt. Mùa hoa tháng 3-4, mùa quả tháng 6

Phân bố thu hái và chế biến keo nước hoa

Vốn nguồn gốc ở đảo Haiiti ở phía đông Cuba, hiện nay được trồng nhiều nước nhiệt đới làm cây bong mát, làm cảnh làm nguồn tannin thuộc da và lấy hoa chế chất thơm dùng trong nước hoa. Có nơi khai thác cả chất keo có tính chất gần như gôm Arabic.
Ngay quanh Hà Nội cũng có trồng một số cây nhưng ít phát triển.

Thành phần hoá học keo nước hoa

Trong vỏ cây keo ta có chứa tannin loại catechic được dùng để thuộc da mềm. Hàm lượng tannin khá cao từ 30 đến 40%.
Trong hoa có tinh dầu mùi hoa tím và hoa cam. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là farnesola và metyl salixylat.
Trong những điều kiện nhất định cây còn tiết ra chất gôm có tính chất giống và có thể dùng thay thế cho gôm Arabic.

Công dụng và liều dùng keo nước hoa

Vỏ thân có tannin chat và có tính chất săn được dùng sắc lất nước rửa thụt để chữa, khí hư bạch đới.
Lá giã nát hoặc sắc lấy nước rửa vết thương vết loét, bã đắp lên vết thương, vết loét.
Nhưng chủ yếu người ta trồng cây keo nước hao để lấy hao cất tinh dầu dùng trong kỹ nghệ nước hoa và chất thơm; vỏ cây làm nguyên liệu chế tannin thuộc loại da mềm. Tanin loại này được sử dụng đầu tiên ở châu Úc (mỗi năm châu Úc xuất tới 25 tấn vỏ cây keo nhưng vì chỉ dựa vào nguồn thiên nhiên nên giảm dần, hiện nay Nam Phi lại trồng và khai thác tannin với diện tích 330.000 ha, hằng năm xuất từ 9.400 tấn đến 14.500 tấn vỏ. Ngoài ra Ấn Độ, Đông Phi, Mađagatca v.v… cũng trồng cây này để khai thác tannin.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cây khoai nưa

Cây khoai nưa
Cây khoai nưa

Cây khoai nưa- Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là củ nưa, khoai na.
Tên khoa học Amorphophallus rivieri Dur.
Thuộc họ Ráy Araceae.

Mô tả cây khoai nưa

Cây sống lâu năm có củ to hình cầu dẹt có khi to hơn đầu một người lớn, thịt màu vàng, ăn hơi ngứa. Lá đơn có cuống dài tới 40cm hay hơn, màu xanh lục nâu có đốm trắng, xẻ ba thành những đoạn dài 50cm, phiến lá khía nhiều và sâu. Bông mo tận cùng bằng một phần bất thụ, hình trụ, màu tím. Mo màu nâu sẫm. Mùa hoa: mùa hạ và thu

Phân bố thu hái và chế biến cây khoai nưa

khoai nưa
khoai nưa

Cây mọc hoang khắp những nơi ẩm ướt, có khi được trồng để lấy củ ăn hoặc nuôi lợn.
Củ thu hoạch vào các tháng 9-11, cạo sạch vỏ, đồ chín phơi hay sấy khô, khi dùng ngâm cho mềm, thái mỏng rồi ngâm nước phèn chua và gừng, sao cho thơm và hết ngứa. Củ muốn ăn được phải chế biến nấu với vôi cho hết chất ngứa.
Thành phần hoá học cây khoai nưa cây khoai nưa
Trong củ khoai nưa của ta chỉ mới thấy tinh bột là một chứa chưa xác định được.
Trong một loại khoai nưa Amorphophalus konjac K. Koch người ta đã nghiên cứu lấy được một loại tinh bột riêng có thành phần chủ yếu là konjac-man nan (hàm lượng tới 50%) khi thủy phân sẽ được laevidulin (hay laevidulinoza).

Công dụng và liều dùng cây khoai nưa

Trong nhân dân thường đào củ ăn khi đói nhưng phải nấu kỹ với vôi mới khỏi ngứa. Thường xuyên chỉ trồng lấy củ cho lợn ăn.
Trong y dược củ tươi giã nát dùng đắp mụn nhọt, dùng trong bị ngứa và người ta cho có chất độc nhưng khi nấu với vôi thì chất độc giảm hay mất đi. Người Nhật dùng tinh bột khoai nưa để ăn. Tinh bột khoai nưa còn có thể dùng nấu rượu. Củ còn dùng chữa rắn cắn.
Đơn thuốc có khoai nưa
Đơn thuốc chữa liệt nửa người, củ khoai nưa sống 10g, ô đầu 1g, phụ tử 1g, nước 600ml sắc kỹ còn 100ml chia nhiều lần uống trong ngày.
Chú ý thuốc có độc, phải đun kỹ mới hết chất độc, khi dùng phải theo dõi.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cây La

Cây La – Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là la rừng, ngoi, cà hôi, phô hức (Thổ), chìa vôi, sang mou (Luang parbang – Lào).
Tên khoa học Solanum verbascifolium L. (Solanum pubescens Roxb, Solanum erianthun Don.).
Thuộc họ Cà Solanaceae.

Mô tả cây la

Cây nhỏ hoặc nhỡ cao 2,5-5m. Toàn cành, lá phủ một lớp long dày hình sao màu vàng nhạt, hoặc vàng xám. Lá mọc cách, hình thuôn, hai đầu nhọn, mép nguyên, cả hai mặt đều có long mịn, dày hơn ở mặt dưới, cuống lá dài 2-4cm.
Cụm hoa hình xim lưỡng phân hoặc xim ngù, hoa hình chén, phủ đầy long mềm, tràng hoa màu vàng nhạt, đường kính 0,5-1,3cm, với 6 cánh hoa hình mũi mác, đầu nhọn. Quả nhỏ, hình cầu, đường kính 6mm, hạt rất nhiều có vân mạng đường kính 2mm.
Lá cây khi vò có mùi thơm phảng phất mùi hồng bì.

Phân bố thu hái và chế biến cây la

Cây mọc hoang tại khắp các tỉnh miền Bắc như Hà Giang (la, la rừng), Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng sơn, ngay tại Hà Nội cũng có. Ưa mọc nơi dãi nắng.
Thường người ta hái lá tươi về dùng. Ngoài ra còn dùng rễ đào quanh năm, thái mỏng phơi hay sấy khô. Có khi dùng cả cây thái mỏng phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học cây la

Trong cây la có solanin, saponozit, một ít tinh dầu. Vỏ rễ có 0,3% solasodin. Thành phần khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng cây la

Trong nhân dân, lá la tươi chữa lòi dom, hắc lào, sán trâu bò.
Tại các nước khác, lá la được dùng chữa tiểu tiện đục và phụ nữ khí hư.
Tại Malaixia lá tươi giã nát được dùng đắp lên hai bên thái dương chữa nhức đầu (theo Burkill và Haniff, 1930. Gard. Bull. S.S. 6: 226). Trong thú y, lá thái nhỏ cho vào lỗ mũi ngựa chữa bệnh sổ mũi của ngựa. Trong y học nhân dân Malaixia (Medical book of Malayan medicine-Gar. Bull, Str. Sett 6, 130: 335) người ta dùng nước sắc của rễ chống chữa những cơn đau kịch trong người và những rối loạn sau bữa ăn.
Đơn thuốc có lá la
Đắp lòi dom: Lá tươi ngắt bỏ cuống và gân, giã nát sao nóng dịt vào chỗ lòi dom sau khi đã rửa sạch bằng nước ấm. Có thể để nguyên lá, úp vào dom hay nướng cháy lá, vo lại cho vào hậu môn. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ để tránh đi lại. Bệnh nhân bị lòi dom thường khỏi rất nhanh, đi lại bình thường 2-3 năm không thấy tái phát. Có bệnh nhân dom lòi 4-5cm dùng khỏi (Bệnh viện Hà Giang 1966).
Chữa hắc lào: Lá la tươi vò lấy nước, chấm vào vết hắc lào đã rửa sạch.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cà tàu

Cà tàu
Cà tàu

Cà tàu – Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là cà dại trái vàng.
Tên khoa học Solanum xanthocarpum Schrad và Wondl.
Thuộc họ cà Solanaceae.

Mô tả cây cà tàu

Cây sống hàng năm, cao khoảng 0,7-1m hay hơn. Toàn thân và lá có màu xanh lục nhạt. Phiến lá to rộng gần giống các loại cà cho quả ăn được, mép lá phân thùy không đều. Đặc biệt toàn thân cây, cuống và gân lá cả hai phía trên dưới đều có gai nhọn sắc. Mặt trên và dưới của lá đều có một lớp mỏng long mịn. Cụm hoa tán ngoài nách lá mọc thành chum từ 3-5 cái, cánh hoa màu trắng hoặc xanh lục nhạt 5 cánh rời hình sao rộng 2cm. Tiểu nhị vàng, bao phấn dài 8-9cm. Quả không có long tròn, trắng có bớt rằn xanh, khi chín có màu vàng tươi đường kính 2,5-3cm. Mùa quả quanh năm nhưng nhiều quả nhất vào mùa khô (tháng 11, 12) ở Đà Lạt (Lâm Đồng)

Phân bố thu hái và chế biến cà tàu

Cây mọc hoang dại rất nhiều ở tỉnh Lâm Đồng (Đà Lạt, Đức Trọng, Sơn Dương…), Đắc Lắc (Buôn Mê Thuộc), Gia Lai-Kon Tum. Cây có khả năng chịu khô hạn rất khoẻ, ưa ánh sang nhiều nhưng cũng có thể chịu được dâm mát, có khả năng mọc tranh chấp với cỏ dại. Vào mùa khô (11 đến 4 và 5) cây rụng lá nhiều, để lại những cành rất sai quả, thuận lợi cho việc thu hái (vì khối lượng gai rụng theo lá, dễ hái, nắng nhiều).
Người ta dùng toàn cây (thân, lá và quả) phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học cà tàu

Năm 1939 Rochemeyer H. (Angew. Chem. 52 (20), 374) đã chiết từ cây một gluzit có tên solasodin.
Năm 1980 (Dược học 5, 1980) Hoàng Đại Cử đã định lượng tro trong lá và phần non của cây đang có nhiều quả xanh và chín có 0,05% solasodin. Trong quả xanh (gồm thịt quả và hạt) có 2,36%. Trong quả chín vàng (gồm thịt quả và hạt) có 2,20%.
Tác giả còn chiết từ hỗn hợp gồm quả xanh già, chín vàng và hạt phơi sấy khô dòn được 1,40% solasodin đã tinh chế.

Công dụng và liều dùng cà tàu

Ở nước ta hầu như chưa thấy sử dụng làm thuốc. Nhưng ở nhiều nước như Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, châu Úc người ta dùng toàn cây chữa ho (long đờm), thong tiểu, chữa hen, sốt. Lá, thân và quả dùng làm thuốc bổ đắng chữa phù. Hạt đốt xông khói chữa sâu răng.
Hiện nay có thể dùng làm nguyên liệu chiết solasodin.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Lân Tơ Uyn

cây Lân Tơ Uyn
cây Lân Tơ Uyn

Lân Tơ Uyn – Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là dây sống rắn (Quảng Nam), cây đuổi phượng, (Khu V, miền Bắc), lân tơ uyn (Kontum).
Tên khoa học Raphiadophora decursiva Schott.
Thuộc họ Ráy Araceae.

Mô tả cây lân tơ uyn

Cây mọc leo có thể dài 4 đến 20m. Cành hình trụ đường kính 2,5 đến 5cm. Rễ khi sinh mọc thong. Lá dai, màu xanh lục, dài 40-70cm, rộng 30-50cm, toàn phiến hình thuôn dài, ngọn lá nhọn gốc hình tim. Ngọn cuống gập khúc làm phiến lá mọc quặp cuống. Phiếm lá non nguyên, phiến lá già xẻ lông chim. Trên lá già còn có nhiều lỗ thủng nhỏ dọc ở hài bên gần giữa. Cụm hoa bông mo dày, màu xanh nhạt, hình trụ ngọn tù, dài 15-20cm xung quanh bao bọc bởi 1 lá bắc to, hai mặt màu vàng. Hoa nhiều, lưỡng tính hình lăng trụ 6 góc rộng. Quả mọng màu đỏ, nhiều hạt thuôn dài, từ ở hai đầu, có chấm trắng nhỏ ở mép.

Phân bố thu hái và chế biến cây lân tơ uyn

Cây mọc bám trên thân cây cổ thụ mọc dọc suối nước ở vùng ẩm thấp (rừng già) hoặc dọc bờ rào (ở đồng bằng), có ở khắp nơi từ miền Bắc đến Nam. Người ta dùng thân và lá tươi làm thuốc.
Không có chế biến gì đặc biệt.

Thành phần hoá học cây lân tơ uyn

Lá lân tơ uyn cho phản ứng của glucozit, saponozit, dịch chiết có pH axit (theo Đặng Hanh Khôi, Vũ Văn Chuyên và cộng sự 7-68).

Tác dụng dược lý cây lân tơ uyn

Lá có tác dụng kháng sinh đối với vi trùng Staphloccoccus aureus, Streptomyces pyogenes, Pseudomonas seruginosa và Bacillus subtilis.
Lê Khắc Lập (Viện Quân y giải phóng Khu V) đã theo dõi kết quả điều trị trên 357 trường hợp đã đi tới những kết luận sau đây:

Chỉ định điều trị cây lân tơ uyn

Lân Tơ Uyn
Lân Tơ Uyn

a. Tất cả vết thương phần mềm có miệng rộng. Nếu vết thương chột, miệng nhỏ thì phải vạch rộng, cắt lọc tốt rồi mới dùng lân tơ uyn.
b. Bỏng độ II, nhất là bỏng độ III.
Phản chỉ định: Vết thương chột, lỗ nhỏ, ở trong sâu còn dị vật, không nên dùng lân tơ uyn sẽ làm cho vết thương chóng liền miệng, làm ứ đọng mủ ở trong sâu.
F. Tác dụng của lân tơ uyn trên lâm sàng
a. Lân tơ uyn có tác dụng kháng sinh tại chỗ có thể thay sunfamit và penixilin điều trị tại chỗ. Những vết thương phần mềm không có triệu chứng sốt nhiễm trùng thì chỉ dùng lân tơ uyn đắp lên vết thương cũng đủ tốt.
b. Vết thương được đắp gạc tẩm lân tơ uyn qua 2-3 lần thay băng, các tổ chức chất nhầy mụ được lấy đi nhanh chóng, nhìn mặt vết thương rất sạch và đỏ.
c. Lân tơ uyn kích thích tổ chức hạt non ở vết thương phát triển nhanh, rút ngắn quá trình lấp đầy vết thương, kích thích da non phát triển, chóng liền sẹo và là sẹo mềm ít có thịt thừa ùn lên quá mép vết thương.
d. Dùng lân tơ uyn tiết kiệm được 1/2 số lượng bông gạc và rút ngắn 30 đến 45% thời giant hay băng. Khi bóc gạc hầu hết mủ nhầy và mảnh dính ở vết thương đều dính theo miếng gạc. Không gây đau đớn và chảy máu khi thay băng. Vết thương rất sạch, chỉ cần rửa qua một lượt là đủ. Qua theo dõi 357 trường hợp chưa thấy phản ứng gì xấu tại chỗ và toàn thân của thương binh được điều trị bằng lân tơ uyn. (Y học thực hành 143-1967, tr. 25-29).

Công dụng và liều dùng cây lân tơ uyn

Việc sử dụng lân tơ uyn mới được phổ biến rộng rãi mấy năm gần đây. Quân giải phóng miền Nam dựa vào kinh nghiệm đồng bào Kon Tum khi làm nương rẫy bị dao rựa cắt đứt da thịt thường dùng lân tơ uyn đắp vào vết thương. Nhân dân miền Bắc dùng nước sắc thân cây rửa vết thương (Cứu quốc, 27-8-1967).
Cách dùng như sau: Dùng 1kg dây lân tơ uyn bỏ lá, cạo hết rễ, rửa sạch, băm nhỏ, cho vào 3 lít nước đun sôi trong ba giờ. Lọc qua khăn vải và cô lại còn 700ml dung dịch. Nước lân tơ uyn ở độ đậm này khi đắp vào vết thương, thương binh chỉ có cảm giác xót thoảng qua như rửa nước muối ưu trương trong lần thay băng đầu. Những ngày sau thì hết xót, càng không nên dùng cao lân tơ uyn vì khi đắp lên vết thương rất xót và gây phản ứng xấu tại chỗ (xót, sưng, đỏ). Nước lân tơ uyn lên mốc, đổi màu, có vị chua. Khi dùng như sau: Rửa vết thương bằng nước muối (nếu có nhiều lân tơ uyn thì dùng nước lân tơ uyn rửa càng tốt). Dùng miếng gạc tẩm nước lân tơ uyn đắp lên vết thương xong băng lại và cách 2-3 ngày lại thay băng một lần, tùy mức độ mủ nhầy ở vết thương.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Lu lu đực

Lu lu đực
Lu lu đực

Lu lu đực – Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là thù lù đực, gia cầu, nút áo, hiên già nhi miêu, morelle noire, raisin de oup, herbeau magician.
Tên khoa học Solanum nigrum L.
Thuộc họ Cà Solanaceae.

Mô tả cây lu lu đực

Cỏ mọc hằng năm, nhẵn hay hơi có long, cao 50-80cm, có nhiều cành. Lá hình bầu dục, mềm, nhẵn, dài 4-15cm, rộng 2-3cm. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc thành tán nhỏ có cuống ở kẽ lá. Quả hình cầu, đường kính 5-8mm, lúc đầu màu lục, sau vàng và khi chin có màu đen tím. Hạt dẹt, hình thận, nhẵn, đường kính chừng 1mm. Toàn cây vò hơi có mùi hôi.

Phân bố  thu hái và chế biến cây lu lu đực

Cây lu lu đực mọc hoang ở khắp nơi: Vườn, ruộng, hai bên đường khắp nước ta. Còn mọc cả ở các nước khác châu Âu (Pháp, Ý), châu Á (Trung Quốc…).
Nước ta dùng toàn cây hay chỉ hái lá dùng làm thuốc. Thường dùng tươi.
Một số nước châu Âu, châu Á dùng cây này làm rau ăn nhưng phải nấu chín, và có khi phải đổ bỏ hai ba nước đầu đi. Tuy nhiên quả không dùng vì có độc.

Thành phần hoá học cây lu lu đực

Trong toàn cây chứa solanin, ở quả chứa nhiều hơn. Tất cả các bộ phận của cây có chứa các alkaloid như: steroid, solanine, solasonine, solamargine, chaconine. Nồng độ các chất này là khác nhau và phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thổ nhưỡng. Mặt khác nồng độ cũng thay đổi tùy thuộc vào độ tuổi của cây, điều này giải thích tại sao cùng một loại cây trồng lại vừa được khuyến cáo là có độc mà vẫn sử dụng được làm rau ở một số nơi. Trong lá tươi của cây có chứa axit ascorbic

Công dụng và liều dùng cây lu lu đực

Toàn cây có chất độc nhưng nhiều nơi vẫn nấu chín ngọn non ăn như rau (châu Phi, châu Âu, Ấn Độ, Malaixia một vài nơi ở nước ta). Khi ăn thường người luộc kỹ, bỏ hai ba nước đầu. Tuy nhiên cây xanh tươi độc đối với cừu, dê, vịt và gà. Bò chỉ ngộ độc khi ăn nhiều.
Nước sắc cây dùng rửa vết loét, vết bỏng, mẩn ngứa.
Tại Ấn Độ dịch ép cây này dùng với liều 200-250ml chữa gan phát triển to, làm thuốc thong tiểu và sổ nước.
Với liều nhỏ 30-60ml dịch ép dùng chữa bệnh ngoài da nhất là bệnh vẩy nến.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cây muồn truổng

Cây muồn truổng

Cây muồn truổng – Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là màn tàn, sen lai, tần tiêu, buồn chuồn, mú tương, cam.
Tên khoa học Zanthoxylum avicennae (Lamk.) DC (Fagara avicennae Lamk., Zanthoxylum herculis Lour.).
Thuộc họ Cam Rutaceae.

Mô tả cây muồn truổng

Cây nhỏ nhưng cũng có những cây gỗ to có thân mang nhiều gai lởm chởm (do đó có tên vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, cành cũng mang nhiều gai thẳng đứng và ngắn. Lá nhẵn, kép lông chim rìa lẻ từ 3 đến 13 đôi lá chét; cuống lá hình trụ có khi kèm theo đôi cánh nhỏ. Hoa màu trắng nhạt, mọc thành tán kép, nhẵn, tận cùng, dài hơn lá. Quả dài 4mm, 1 đến 3 mảnh, lớp vỏ ngoài không tách khỏi lớp vỏ trong, mỗi ngăn chứa một hạt màu đen.

Phân bố thu hái và chế biến cây muồn truổng

Muồng truổng mọc hoang ở khắp rung núi các tỉnh miền Bắc nước ta, có mọc cả ở miền Nam, Cămpuchia, Lào. Nhân dân thường lấy lá về nấu ăn, lấy rễ hoặc vỏ thân, vỏ rễ và sao vàng hoặc phơi khô làm thuốc. Không phải chế biến gì khác.

Thành phần hoá học cây muồn truổng

Trong rễ màu vàng, vị rất đắng có chứa ancaloit, chủ yếu là becberin. Hoạt chất khác chưa rõ. Trong quả có một ít tinh dầu mùi thơm xitronellal.

Công dụng và liều dùng cây muồn truổng

Muồng truổng là một vị thuốc còn nằm trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân. Người ta thường lấy rễ về sao vàng sắc đặc mà uống để chữa mẩn ngứa, lở loét, chảy nước. Mỗi ngày uống 6 đến 12g rễ khô. Dùng ngoài không kể liều lượng để nước tắm khi bị mẩn ngứa, lở loét, ghẻ. Một số nơi dùng lá nấu ăn.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cây rong mơ

Cây rong mơ
Cây rong mơ

Cây rong mơ- Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là loại rau mã vĩ, rau ngoai, rau mơ, hải tảo, rong biển.
Tên khoa học Sargassum, Herba Sargassi.
Rong mơ hay rau mơ. (Sargassum hoặc Herba Sargassi) là toàn tảo rửa sạch phơi hay sấy khô của nhiều loài tảo khác nhau như dương thê tái Sangassum fusiforme (Harv). Setch., Hải khảo tử Sargassum pallidum (Turn. C. Ag.) hoặc một loài tảo Sargassum sp. Khác đều thuộc họ Rong mơ Sargassaceae.

Mô tả cây rong mơ

Rong mơ là các loại tảo sống ở biển. Tảo rong cấu tạo bởi sợi phân nhánh non như “thân” màu nâu, mang những bộ phận mỏng và dẹt non như “lá” kích thước thay đổi tùy theo loài Sargassum fusiforme dài 7-40 cm, loài Sargassum pallidum dài 30-100cm, đường kính “thân” loài S.fusiforme chỉ đạt 1-4mm, trong khi loài S.pallidum đạt 2cm. “Lá” có khi hình trụ dài 3,5-7cm (S. fusiforme) hay vừa hình sợi, vừa hình phiến lá (S. pallidum) dài tới 25cm, rộng 2-2,5cm, có mép răng cưa thô, trên mặt có những điểm đen. Rải rác trên toàn tảo có những bộ phận hình dạng giống “quả” thực ra đó chỉ là những “phao” trong chứa đầy không khí giúp cho tảo đứng thẳng trong nước biển. Phao có kích thuớc to nhỏ tùy theo loài. Có loài chỉ nhỏ bằng hạt gạo, có loài phao to bằng hạt tiêu. Có khi hình thoi (dương thể thái) ở đầu “thân”, có khi ở nách “lá” và hình cầu (S.pallidum). Ngoài mặt phao cũng có những chấm đen.

Phân bố thu hái và chế biến cây rong mơ

Rong mơ mọc hoang ở khắp miền Duyên Hải nước ta, thường mọc bám trên những dãy núi đá ngầm ven biển, nhiều nhất ở Vĩnh Linh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Nam Hà, Ninh Bình, Thái Bình, Quảng Ninh cũng có, nhiều khi mọc thànhy dải dài tới hàng chục kilômét, rộng 2-3km. Còn mọc ở bờ biển nhiều nước khác. Riêng nước ta, hằng năm có thể thu hoạch tới 400-500 tấn. Mùa thu hoạch từ tháng 3 đến tháng 9. Đem về rửa sạch đất cát, rửa hết mặn phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học cây rong mơ

Trong rong mơ có từ 10-15% muối vô cơ (trong đó có rất nhiều iốt 0,3 đến 0,8%, asen, kali), 1-2% lipit, 4-5% prôtit và rất nhiều algin hay axit alginic.

Công dụng và liều dùng cây rong mơ

Từ lâu, rong mơ được dùng trong y học cổ truyền với tên hải tảo.
Tài liệu cổ ghi về hải tảo như sau: Vị đắng, mặn, tính hàn vào ba kinh can, vị và thận. Có tác dụng tiêu đờm, làm mềm chất rắn, tiết nhiệt lợi thủy dùng chữa bướu cổ, thủy thũng. Người tỳ vị hư hàn, có thấp trệ không dùng. Tác dụng ngược với cam thảo. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.
Hiện nay ta dùng làm thuốc chữa bướu cổ (tán nhỏ dập thành viên iotamin chứa 50-70 microgam iốt – ngà dùng 2 đến 4 viên luôn 3-5 tháng), nguyên liệu chế biến iốt, alginate dùng trong công nghiệp hồ vải sợi.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cây sắn thuyến

Quả sắn thuyến
Quả sắn thuyến

Cây sắn thuyến- Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn gọi là sắn làm thuyền
Tên khoa học Syzyfium resinosum (Gagnep) Merr. Et Perry (Eugenia resinosa).
Thuộc họ Sim Myrtaceae.

Mô tả cây sắn thuyến

Sắn thuyền là một cây có thân thẳng đứng, hình trụ, có thể cao tới 15m. Cành nhỏ gầy và dài, lúc đầu dẹt sau hình trụ, màu nâu nhạt, nhăm nheo. Lá mọc đối, hai đôi lá gần nhau mọc theo hai hướng thẳng góc với nhau. Lá mọc sum suê, phiến lá hình mác thuôn nhọn ở gốc, nhọn tù ở định, dài 6-9cm, rộng 20-45mm, đen nhạt ở trên khi khô, mặt dưới nhạt có những điểm hạch hình điểm. Cụm hoa mọc ở kẽ các lá rụng hay chưa rụng, thành chùy dài 2-3cm, thư hợp thành nhóm dài 20cm, trục gầy nhỏ, tận cùng bở 3 hoa không có cuống. Nụ hoa hình lê, gần hình cầu dài 3-4mm, rộng 2,5-3mm. Mùa thu ra quả thành từng chum như chum vối, khi chin có màu tím đỏ, có vị ngọt, chat chat. Nhân dân ta vẫn dùng vỏ cây để xàm thuyền cho nên có tên sắn xàm thuyền. Lá non còn được dùng ăn gỏi.

Phân bố thu hái và chế biến cây sắn thuyến

Cây mọc hoang và được trồng ở gần khắp miền Bắc, Hà Nội cũng có, các tỉnh khác như Thái Bình, Hà Tây, Hoà Bình, Nam Hà, Nam Định, Ninh Bình v.v… Dùng làm thuốc, thường người ta chỉ dùng lá tươi đem về giã nát để đắp lên nơi vết thương. Đang được nghiên cứu dùng phơi khô tán bột.

Thành phần hoá học cây sắn thuyến

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy có tinh dầu, chất nhựa, chất nhầy, tamin.

Tác dụng dược lý cây sắn thuyến

Dựa vào kinh nghiệm nhân dân dùng lá sắn thuyền đắp lên vết thương, Đỗ Phú Đông, Bùi Như Ngọc và Phan Văn Nông và cộng sự ở Bệnh viện Hữu Nghị Việt-Tiệp đã nghiên cứu trong thực nghiệm đã đi tới những kết luận sau đây:
1. Lá sắn thuyền giã nhỏ với muối hoặc không có muối và thêm nước, điều có tác dụng ức chế khuẩn như một số thuốc kháng sinh thường dùng đối với chủng Staphylococcus aureus và Pyogenes cũng như với Bacillus proteus.
2. Lá sắn thuyền tươi giã nát đắp lên vết thương thực nghiệm có tác dụng làm se vết thương, chống nhiễm trùng, tổ chức hạt mọc nhanh, toàn trạng con vật thí nghiệm mạnh khoẻ. Bột lá sắn thuyền khô mịn cũng có tác dụng tốt.
3. Tìm khả năng tăng quá trình thực bào đối với viêm của lá sắn thuyền, các tác giả cho rằng lá sắn thuyền có tác dụng động viên nhanh mạnh bạch cầu tới ổ viêm, thúc đẩy nhiều tế bào đơn phân Plaxmôxit, fibrôxit, tế bào sao, lymphôxit… tạo thành kháng thể mạnh hơn nên có tác dụng chống tác nhân gây viêm, kích thích tổ chức hạt, làm vết thương chóng liền.
4. Tìm tác dụng dãn mạch dãn mạch tại chỗ trên tai thỏ, các tác giả thấy lá sắn thuyền có làm dãn mạch tai của thỏ và cho rằng việc động viên các tế bào hàn gắn tổ chức tới ổ viêm là do lá sắn thuyền có tác dụng làm giãn mạch tại chỗ.

Công dụng và liều dùng cây sắn thuyến

Ngoài công dụng dùng lá non ăn gỏi, vỏ thân để xàm thuyền, lá sắn thuyền tươi giã nát đắp lên vết thương chảy mủ dai dẳng, bỏng vết mổ nhiễm trùng, gãy xương hở, hoại tử da… Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp đã dùng có kết quả chữa những vết thương nhiễm trùng thông thường, làm cho vết thương chóng khô, bớt nhiễm trùng, tổ chức sẹo có điều kiện phát triển, làm cho vết thương chóng lên da non, đặc biệt dùng lá sắn thuyền chưa có trường hợp nào vết sẹo bị lồi là một điều các nhà tạo hình và vá da rất mong muốn (Báo cáo trong Hội nghị thuốc nam châm cứu toàn ngành lần thứ VI, năm 1969). Sau đây lá cách dùng và kết quả của một trong những trường hợp điển hình:
Vũ văn Th. 35 tuổi, được mổ cắt đoạn đại tràng. Sau mổ, vết thương bị nhiễm trùng kéo dài, đã dùng các biện pháp thong thường để chữa, nhưng mủ vẫn chảy kéo dài trên một diện tích 3x15cm, thịt sùi. Định khâu da kỳ 2 cũng không được. Dùng lá sắn thuyền tươi giã đắp trong vòng 10 ngày đã thu hẹp hẳn chỉ còn 0,5x11cm, đắp thêm 10 ngày nữa sẹo liền hẳn. Cho ra viện.

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi

Cây thóc lép

thóc lép
thóc lép

Cây thóc lép- Chữa Mụn Nhọt Mẩn Ngứa
Còn có tên là cỏ cháy, bài ngài.
Tên khoa học Desmodium gangeticum DC.
Thuộc họ Cánh bướm Gabaceae (Papilionaceae).

Mô tả cây thóc lép

Cây loại cỏ cao tới 1,30m. Cành mọc vươn dài. Lá chỉ gồm một lá chét, mặt trên nhẵn, mặt dưới có long. Cụm hoa thưa dài 12-30cm, gồm nhiều hoa nhỏ.
Nhiều quả không cuống chia làm 7-8 đốt, mỗi đốt đựng nột hạt, đốt có cạnh, một cạnh khum tròn, một cạnh thẳng. Khi ta đi qua quả dính vào quần do trên quả có những long móc.

Phân bố thu hái và chế biến cây thóc lép

Cây mọc hoang dại ở vùng rừng núi. Mùa hoa quả vào các tháng 2-5. Nhân dân dùng rễ tươi hay phơi hoặc sấy khô. Thu hái quanh năm, thái mỏng phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học cây thóc lép

Hạt chứa đường, dầu béo và alcaloid.Trong cây có chứa nhiều hoạt chất quý như gangetin, các flavonoid. Hạt có chứa tinh dầu.

Công dụng và liều dùng cây thóc lép

Nhân dân dùng rễ thóc lép chữa những vết loét vết thương, rắn cắn, phù thũng, lợi tiểu.
Ngày dùng 6 đến 16g dưới dạng thuốc sắc hay giã nát, (tươi) vắt lấy nước uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Đơn thuốc có thóc lép
Chữa phù thũng: Rễ thóc lép 12g, lá cối xay 8g. Thêm 300ml nước. Đun sôi, giữ sôi 30 phút, chia làm 3 lần uống trong ngày.
Chữa rắn cắn: Rễ thóc lép tươi 20g, giã nát vắt lấy nước uống. Bã đắp lên nơi rắn cắn. Ngày dùng 2 lần.
Chữa vết loét: Rễ thóc lép 30g, nước 200ml. Đun sôi, giữ sôi 15 phút. Dùng rửa vết loét, vết thương..

Nguồn :  Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam tại Tin tức cây thuốc Siêu Thị Yến Nhi